13 lượt xem

Cho thuê lại lao động là gì? | Educationuk-vietnam.org

Cho thuê làm việc là một thể chế được kế thừa từ Bộ luật Lao động năm 2012 từ Bộ luật Lao động hiện hành. Hãy cùng tìm hiểu về vấn đề này. người cho thuê lại lao động theo quy định của Bộ luật lao động Qua bài viết này, bạn đọc sẽ có thêm những thông tin bổ ích về luật lao động cho mình.

Cho thuê lại lao động là gì?

Hợp đồng phụ là việc người lao động giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động là người lao động nước ngoài, sau đó người lao động được chuyển sang làm việc do người sử dụng lao động quản lý. Thuê người lao động khác nhưng vẫn duy trì quan hệ lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Lao động hiện hành.

Cho thuê nhân công là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ những doanh nghiệp có hợp đồng lao động mới được thực hiện và có giá trị đối với một số công việc nhất định.

Mục đích của công việc thuê lại

Mục đích của việc cho thuê lao động theo quy định tại Điều 4 Nghị định 29/2019 / NĐ-CP như sau:

Điều 4. Mục đích của việc cho thuê lại công trình

1. Đáp ứng tạm thời trước sự gia tăng đột ngột của nhu cầu việc làm trong một khoảng thời gian nhất định.

2. Thay thế công nhân bọn trẻtrong thời gian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc nghĩa vụ công dân.

3. Cần sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.

Danh sách các công việc được thực hiện đối với hợp đồng bên ngoài

Không phải công việc nào cũng có thể cho thuê lại. Bên cho thuê lại chỉ được thực hiện các công việc quy định tại Phụ lục I do Nghị định 29/2019 / NĐ-CP ban hành, bao gồm:

STT

công việc

Ngày thứ nhất

Người dịch / Tóm tắt / Lối tắt

2

Thư ký / Trợ lý hành chính

3

Lễ tân

4

Hướng dẫn viên du lịch

5

Hỗ trợ bán hàng

6

Hỗ trợ dự án

7

Lập trình hệ thống máy móc sản xuất

số 8

Sản xuất và lắp đặt thiết bị truyền dẫntôiViễn thông

9

Vận hành / kiểm tra / sửa chữa máy móc xây dựng, hệ thống phát điện

mười

Làm sạch và khử trùng các tòa nhà và nhà máy

11

Chỉnh sửa tài liệu

thứ mười hai

Vệ sĩ / Vệ sĩ

13

Tiếp thị qua điện thoại / Chăm sóc khách hàng

14

Xử lý các vấn đề tài chính và thuế

15

Sửa chữa / Kiểm tra hoạt động của máy móc

16

Quét, vẽ kỹ thuật công nghiệp / trang trí nội thất

17

Người lái xe

18

Quản lý, vận hành, bảo trì và dịch vụ trên tàu

19

Quản lý, giám sát, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng và dịch vụ trên các giàn khoan dầu khí

20

Phi công, dịch vụ máy bay / Bảo dưỡng và sửa chữa máy bay và thiết bị máy bay / Lịch trình, hoạt động bay / Giám sát chuyến bay

Các trường hợp không thể sử dụng lại lực lượng lao động

Điều 21 Nghị định 29/2019 quy định về các trường hợp không thể cho thuê lại tác phẩmg bao gồm:

– Chủ nhà hoặc chủ thầu có tranh chấp về việc làm thì đình công hoặc giao thầu phụ để thay thế người lao động đang thực hiện quyền đình công hoặc giải quyết tranh chấp lao động.

– Chủ nhà không thỏa thuận cụ thể trách nhiệm bồi thường tai nạn, bệnh tật tại nơi làm việc của nhà thầu phụ với người lao động.

– Khi chưa được sự đồng ý của người lao động nhận thầu phụ.

– Thay thế người lao động bị thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp hoặc vì lý do kinh tế.

Điều khoản cam kết hợp đồng lao động

Theo dõi Điều 54 Bộ luật lao động Để thực hiện hoạt động giao khoán, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ và được cấp phép hoạt động giao khoán. Giấy phép hoạt động và tiền ký quỹ phải được thực hiện theo Nghị định 29/2019 / NĐ-CP. Chỉ khi có đủ các điều kiện trên thì doanh nghiệp mới được tiếp tục cho thuê công trình.

Thời hạn thuê lao động tối đa không quá 12 tháng. Khi hết thời hạn, chủ nhà không nên tiếp tục cho người thuê lại lao động mà người lao động vừa hết thời hạn thuê lại.

Quy chế cho thuê lại lao động

– Theo chức năng của ILO và các quy định của nhiều nước khác (Đức, Trung Quốc).

Cam kết được hiểu là việc tuyển dụng lao động (ký hợp đồng lao động với người lao động) nhưng sau đó giao cho doanh nghiệp khác sử dụng trong một thời gian nhất định. Trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp bên ngoài, quyền lợi của người lao động vẫn được doanh nghiệp bên ngoài đảm bảo người lao động phải chịu sự quản lý, giám sát của doanh nghiệp ký hợp đồng. Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, khoán lao động đã trở thành một hình thức phục vụ lao động phổ biến và không thể thiếu, mang lại lợi ích to lớn cho người lao động và người đi thuê. Vì vậy, một số nước trên thế giới đã ban hành luật sử dụng lao động để điều chỉnh hoạt động này. Cho thuê lại lao động được chia thành hai trường hợp phổ biến:

(1) Cho thuê lại đang làm việc thực tế;

(2) Thu nhận sức lao động như một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thực tế ở Việt Nam, hoạt động giao khoán việc làm đã xuất hiện từ năm 2001 và phát triển khá mạnh ở các địa phương có nhiều doanh nghiệp như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai … Tuy nhiên, chỉ khi Bộ luật Lao động được thông qua vào năm 2012, loại hình dịch vụ này đã được chính thức công nhận ở nước ta.

Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Lao động quy định khái niệm việc làm tại nơi làm việc khá gần với quan điểm của ILO và các nước đã có nhiều kinh nghiệm trong việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này:

“Hợp đồng phụ là việc người lao động được tuyển dụng bởi một công ty được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho một người sử dụng lao động khác, người này chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và vẫn duy trì mối quan hệ lao động bằng cách thực hiện hợp đồng lao động phụ. Tuy nhiên, nếu theo định nghĩa này, nhà nước ta chỉ cho phép sử dụng lao động là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (trường hợp 2 nêu trên), không chấp nhận việc làm hiện tại (do tính chất của hợp đồng lao động) thì khó có thể được được kiểm soát và cao. nguy cơ bóc lột sức lao động, vi phạm quyền của người lao động). Đây là sự điều chỉnh hợp lý trong giai đoạn ban đầu khi nhà nước ta chưa có kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật và quản lý hoạt động việc làm.

Để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ việc làm và các chủ thể khác có liên quan, nhà nước xác định theo hướng khoán việc làm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ thực hiện cho một số công việc nhất định.

Điểm chung dễ nhận thấy trong pháp luật về thuê lao động ở tầm quốc tế và pháp luật của nhiều nước là cho thuê lao động được coi là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vì bản thân hoạt động cho thuê lao động ngoài những lợi ích còn có thậm chí nhiều khả năng hơn. có tác động bất lợi đến tất cả các bên liên quan, đặc biệt là tác động bất lợi đối với người lao động có việc làm và trật tự thị trường lao động do bản chất của thị trường lao động. rủi ro của hoạt động đó. Đối với Việt Nam, Cho thuê việc làm là một lĩnh vực mới trong hoạt động của dịch vụ việc làm, một lĩnh vực mới trong quy định pháp luật, việc đặt ra các điều kiện cho doanh nghiệp ký hợp đồng cũng chính là thực hiện mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lao động nói chung và pháp luật lao động nói riêng phù hợp với các quy định của pháp luật. và trên thế giới, phục vụ nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Điều kiện đặt ra hiện nay đối với ngành này ở nước ta là doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải ký quỹ, đáp ứng đủ điều kiện về vốn pháp định theo quy định của pháp luật và được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chấp thuận.

Danh mục các công việc được thực hiện đối với hợp đồng bên ngoài sẽ do Chính phủ quyết định.Đây là danh sách mở, có thể thay đổi tùy theo sự phát triển của thị trường lao động và yêu cầu khách quan của hoạt động khoán. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục này khi cần thiết. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, mặc dù các công trình trên, Công ty nước ngoài không được phép cho thuê lại lao động trong các trường hợp sau:

– Công ty có tranh chấp lao động, đình công hoặc thay thế người lao động đang thực hiện quyền đình công và giải quyết tranh chấp lao động.

– Chủ nhà không thỏa thuận cụ thể trách nhiệm bồi thường tai nạn, ốm đau khi làm việc của nhân viên hợp đồng phụ với bên giao khoán.

– Thay thế người lao động bị thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp hoặc vì lý do kinh tế.

– Thuê người lao động làm công việc ở nơi có điều kiện sinh hoạt khó khăn theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Y tế công bố, trừ người lao động. người đó đã sống ở khu vực trên đủ 03 năm. Hoặc nhiều hơn; Làm việc ngoài danh mục nghề, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt phiền hà, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố.

Hợp đồng phụ việc làm

Điều 55 Bộ luật lao động quy định khá cụ thể đối với hợp đồng thầu phụ.

Theo đó, nhận khoán lao động và khoán lại lao động phải ký vào hợp đồng thầu phụ bằng văn bản, được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản.

Hợp đồng lao động phụ bao gồm các nội dung chính sau:

– Vị trí làm việc, vị trí việc làm đối với nhân viên bên ngoài, nội dung cụ thể của công việc, yêu cầu cụ thể đối với nhân viên bên ngoài;

– Thời hạn sử dụng lại lực lượng lao động; thời điểm bắt đầu làm việc của người lao động;

– Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc;

– Trách nhiệm bồi thường tai nạn, bệnh tật tại nơi làm việc;

– Nghĩa vụ của mỗi bên đối với người lao động.

Ngoài ra, hợp đồng lao động không được có thỏa thuận về quyền và lợi ích của người lao động thấp hơn hợp đồng lao động mà người lao động nước ngoài đã ký với người lao động.

>>>>> Tham khảo: Ví dụ về hợp đồng lao động

READ  Thông tin tuyển sinh trường Cao đẳng Lý Tự Trọng thành phố Hồ Chí Minh | Educationuk-vietnam.org