12 lượt xem

[CHUẨN NHẤT] Da điều hòa thân nhiệt bằng cách nào? | Educationuk-vietnam.org

Câu hỏi: Da điều hòa thân nhiệt như thế nào?

Câu trả lời:

Da điều chỉnh nhiệt độ cơ thể bằng cách thu hẹp hoặc mở rộng các mao mạch ở lớp hạ bì, tuyến mồ hôi, co cơ và chất béo:

– Khi trời nóng, các mao mạch dưới da giãn ra, da trông rất đỏ, tuyến mồ hôi tiết ra nhiều mồ hôi trong Tăng thoát nhiệt làm cho nhiệt độ ổn định.

– Khi trời lạnh, mao mạch co lại, cơ chân co lại, có thể xuất hiện hiện tượng ê buốt → Tăng khả năng giữ nhiệt cho cơ thể.

[CHUẨN NHẤT]    Da điều hòa thân nhiệt như thế nào?

Xem các giải pháp chính để tìm hiểu thêm về kiểm soát nhiệt độ cơ thể:

I. Cơ chế điều nhiệt

Nhiệt độ cơ thể được điều hòa bởi các cơ chế phản ứng thần kinh.

– Mùa nóng:

Đổ mồ hôi điều tiết xảy ra khi nhiệt độ cơ thể quá cao (ví dụ, sốt hoặc căng thẳng) hoặc khi cơ thể cần thư giãn để duy trì sự cân bằng với nhiệt độ xung quanh (ví dụ như thời tiết nóng)
Quá trình tỏa nhiệt vẫn chưa đủ để hạ thân nhiệt để điều hòa thân nhiệt, não sẽ tiếp tục gửi tín hiệu thần kinh đến tuyến mồ hôi nằm bên dưới da để tiết mồ hôi lên bề mặt da. , mục đích của việc này là sự bay hơi của mồ hôi sẽ nhanh chóng thoát nhiệt ra khỏi bề mặt da.

Đổ mồ hôi sẽ giúp da ngậm nước, tăng cường hệ thống miễn dịch của da và tạo điều kiện hạ nhiệt độ cơ thể.

– Mua lạnh:

Khi nhiệt độ bên ngoài giảm xuống, cơ thể sẽ giữ nhiệt bằng cách thu hẹp các mao mạch máu gần bề mặt da, nghĩa là hạn chế lưu lượng máu lên bề mặt da càng ít càng tốt, do đó nhiệt bị mất đi cũng ít hơn. nguyên nhân khiến cơ thể chúng ta thường xuyên cảm thấy xanh xao vào mùa lạnh.

1. Khái niệm về tiêu chuẩn (điểm thiết lập)

Điều nhiệt là quá trình cơ thể điều chỉnh và cân bằng cường độ sinh nhiệt và mất nhiệt để nhiệt độ lõi duy trì gần với điểm tiêu chuẩn 37.oC. Khi thân nhiệt tăng trên mức này thì tốc độ toả nhiệt lớn hơn quá trình toả nhiệt để đưa thân nhiệt trở lại 37oC. Ngược lại, khi thân nhiệt xuống dưới điểm chuẩn thì tốc độ tỏa nhiệt sẽ cao hơn nhiệt mất đi.

2. Tế bào thần kinh chéo thị giác vùng dưới đồi trước

Đường trước thị giác-vùng dưới đồi chứa nhiều tế bào thần kinh nhạy cảm với nhiệt và một số tế bào thần kinh nhạy cảm với lạnh. Các tế bào thần kinh này hoạt động như cảm biến nhiệt độ để kiểm soát nhiệt độ cơ thể.

Khi vùng da này bị kích thích nhiều sẽ khiến da tăng tiết mồ hôi và giãn mạch giúp chống nóng, đồng thời ức chế quá trình sinh nhiệt. Vì vậy, nó còn được coi là trung tâm điều nhiệt.

3. Các thụ thể nhiệt trên da và mô

Cơ quan cảm nhận nhiệt trên da bao gồm cơ quan cảm thụ nhiệt và lạnh, trong đó số lượng thụ thể lạnh gấp 10 lần.

Các thụ thể nhiệt cũng được tìm thấy trong các cơ quan nội tạng như tủy sống, khoang bụng và xung quanh các tĩnh mạch lớn. Nó cũng chủ yếu phát hiện ra cái lạnh. Tuy nhiên, không giống như thụ thể của da, nó tiếp xúc với nhiệt độ trung tâm hơn là ngoại vi.

4. Vùng dưới đồi sau – Tín hiệu tích hợp

Cơ quan thụ cảm nhiệt ngoại vi tham gia vào quá trình điều nhiệt chủ yếu thông qua vùng dưới đồi. Khu vực kích thích các tín hiệu này nằm ở hai bên của vùng dưới đồi sau. Các tín hiệu nhiệt trung tâm từ đường thị giác trước-vùng dưới đồi cũng được truyền đến vùng dưới đồi phía sau. Tại đây, tất cả các tín hiệu nhạy cảm với nhiệt được kết hợp để kiểm soát quá trình sinh nhiệt và giữ nhiệt của cơ thể giúp điều hòa thân nhiệt.

II. Điều hòa trung tâm

Thân nhiệt được giữ ổn định nhờ trung tâm điều nhiệt. Nói đến trung tâm điều hòa nhiệt độ, chúng ta phải hiểu rằng điểm xác định là nhiệt độ mà trung tâm điều hòa thân nhiệt phải điều chỉnh giữa hai quá trình sinh nhiệt và mất nhiệt, sao cho thân nhiệt luôn được giữ cố định. trong cùng một. nhiệt độ. nhiệt độ đó.

Trung tâm điều hòa nhiệt nằm ở vùng trước của vùng dưới đồi (vùng dưới đồi), trong vùng này có các tế bào thần kinh, hoạt động của chúng liên tục thay đổi để đáp ứng với sự thay đổi nhiệt độ (đo bằng điện thế hoạt động). Các tế bào khởi động cơ chế điều hòa nhiệt. Người ta thấy rằng 30% là tế bào thần kinh nhạy cảm với nhiệt, 10% là tế bào thần kinh nhạy cảm với lạnh. Hơn nữa, có một số tế bào thần kinh có phản ứng gián đoạn với sự thay đổi nhiệt độ, tức là các tế bào thần kinh trung gian (tế bào thần kinh xen kẽ) chỉ chịu trách nhiệm dẫn dòng thần kinh.

III. Một số rối loạn thân nhiệt

1. Sốt

Nhiệt độ là trạng thái tăng thân nhiệt xuất hiện do điểm chuẩn bị cao hơn bình thường. Sau đó, phản ứng tăng thân nhiệt xuất hiện và nâng thân nhiệt lên điểm chuẩn mới gây sốt.

Các pyrogens ngoại sinh bao gồm các sản phẩm phân hủy, độc tố vi khuẩn hoặc toàn bộ vi sinh vật.

Pyrogens nội sinh là các cytokine do bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, bạch cầu trung tính, lympho bào tiết ra … Pyrogens nội sinh thường được tiết ra khi tế bào đang trong quá trình thực bào hoặc nhận dạng các pyrogens ngoại sinh. Pyrogen nội sinh phổ biến nhất là interleukin-1. Interleukin-1 kích thích tế bào thần kinh vùng dưới đồi tiết ra prostaglandin E2, và nó là chất có tác dụng làm tăng tiêu chuẩn vùng dưới đồi. Bản thân nội độc tố của vi khuẩn cũng có thể trực tiếp làm tăng sản xuất prostaglandin E2 ở vùng dưới đồi.

Khi bắt đầu sốt sẽ có các biểu hiện như ớn lạnh, co mạch, run rẩy. Khi hết sốt, mạch giãn ra, vã mồ hôi.

2. Say nóng

Tăng thân nhiệt là tình trạng tăng thân nhiệt khi nhiệt độ môi trường quá cao, vượt quá khả năng tỏa nhiệt. Nếu môi trường không khí khô và có mùi đối lưu thì sự thoát nhiệt do bay hơi vẫn diễn ra thuận lợi. Nếu độ ẩm là 100% thì với nhiệt độ không khí 34oC đã có thể làm tăng nhiệt độ cơ thể.

Khi bạn bị say nắng, nhiệt độ cơ thể của bạn tăng lên 40,5-42oC. Các triệu chứng là chóng mặt, choáng váng, da nóng và đỏ, có thể mê sảng và mất ý thức. Nặng, có thêm sốc tuần hoàn.

Đột quỵ nhiệt là một dạng đột quỵ nhiệt với sự bổ sung của ánh sáng mặt trời.

3. Sự tiếp xúc của cơ thể với cực lạnh

Một người bị rơi vào nước đá trong 20 – 30 phút sẽ tử vong do rung thất, ngừng tim. Khi đó, nhiệt độ cơ thể giảm xuống 25.oC.

Khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống dưới 34oC, khả năng điều hòa nhiệt độ của vùng dưới đồi cũng sẽ bị suy giảm khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống 29oC khả năng này sẽ mất hoàn toàn. Ban đầu nạn nhân sẽ buồn ngủ và sau đó hôn mê.

Đóng băng: Các bộ phận của cơ thể tiếp xúc với cái lạnh có thể bị đóng băng, được gọi là đóng băng, thường thấy ở tai, đầu ngón tay và bàn chân. Nó có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn được gọi là hoại thư.

Giãn mạch do lạnh: khi nhiệt độ mô giảm xuống mức có thể gây đông máu, mạch máu giãn ra đột ngột, xuất hiện các nốt ban trên da. Hiện tượng này giúp bảo vệ khỏi bị đóng băng.

READ  Tập đoàn NextTech - nơi bệ phóng của những tài năng công nghệ | Educationuk-vietnam.org