6 lượt xem

Đôi nét về phong trào thơ mới | Educationuk-vietnam.org

Phạm Quỳnh từng nói:Thơ được cho là tiếng kêu của trái tim. Người Trung Quốc có một quy tắc nghiêm ngặt là các nhà thơ chân chính muốn sửa sai, sửa lại cách gọi đó cho hay hơn, nhưng cũng vì thế mà mất đi giọng văn tự nhiên.

Dù ở thời kỳ nào thì văn học cũng có những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất định, đóng góp vào sự phát triển của nền văn học nước nhà. Tuy nhiên, không thể phủ nhận thời kỳ đánh dấu bước ngoặt quan trọng nhất của văn học Việt Nam chính là phong trào thơ mới. Phong trào thơ mới phá bỏ sự trói buộc của thơ cũ bằng những niêm luật khắt khe, giải phóng bản ngã con người của các nhà thơ, đưa thơ ca nước nhà lên một giai đoạn sống động và rực rỡ nhất. Một thời muôn hoa đua nở, đầy tài năng và đạo đức.

Câu chuyện về sự ra đời của trào lưu thơ mới

Sự cai trị của người Pháp đối với Việt Nam sau Thế chiến thứ nhất, cùng với việc người Pháp đẩy mạnh phong trào thuộc địa, đã vô tình đẩy nhanh làn gió văn hóa phương Tây vào Việt Nam. Phan Khôi cũng có nhiều bài viết phê phán những hạn chế của thơ cũ và tìm cách được chọn để sáng tác thơ.

Giữa những năm 1924-1925, cuốn tiểu thuyết về mối tình Đạm Thủy Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã gây xôn xao trong giới sinh viên và thanh niên thành thị, dù mối tình này vẫn chưa vượt qua được sự ngăn cản của đại gia đình. Sau đó, đến năm 1928, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã phá bỏ số vần, số câu, số chữ của “thơ cổ” khi dịch “La cigale et la fourmi” của La Fontaine sang tiếng Việt. . Năm 1929, Trịnh Đình Rư tiếp tục viết cho Phụ nữ Tân văn (Không.

Ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài thơ Tình già của Phan Khôi được đăng trên báo Phụ nữ số. 122 cùng với lời giới thiệu mang tên Một kiểu thơ mới được trình bày giữa làng thơ, được coi như bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới. Ít lâu sau, cuộc tranh luận giữa thơ mới và thơ cũ phát triển vô cùng gay gắt. Chỉ đến năm 1941, cuộc tranh chấp mới chấm dứt do thắng lợi của phong cách thơ mới, chấm dứt mấy trăm năm thống trị của thơ Đường. Một thời kỳ vàng son mới của văn học Việt Nam đã phát triển dưới một cái tên được nhiều người biết đến. là phong trào Thơ mới.

Phong trào thơ mới được chia thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1932-1935

Đây là thời kỳ đánh dấu sự nở rộ của thơ mới, với sự đấu tranh gay gắt giữa hai trường phái thơ. Theo sáng kiến ​​của Phan Khôi, một số nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên đã liên tục đả kích thơ Đường luật, yêu cầu xóa bỏ dấu, niêm luật, tương phản, xóa bỏ kinh điển. lời nói sáo rỗng. .…

Buổi đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào Thơ mới với tập thơ (1935). Ngoài ra còn có các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhuật Pháp, Vũ Đình Liên

Giai đoạn 1936-1939

Đây là thời kỳ Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều phương diện, nhất là phương diện thể loại. Trong thời kỳ này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu (Tập thơ -1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê -1936, Bi kịch-1937), Chế Lan Viên (Diệu Toàn – 1937), Bích Khuê (Tinh huyết – 1937). 1939),… Đặc biệt có sự góp mặt của Xuân Diệu, “nhà thơ trẻ tuổi nhất” vừa bước vào làng thơ đã “yên bề gia thất” (Hoài Thanh). Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất thời kỳ này

Phong trào thơ mới nở rộ với sự xuất hiện của một số cây bút tên tuổi, thể hiện rõ tài năng nghệ thuật độc đáo cũng như sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân sau khi in ít lâu. Nhà thơ được phép bộc lộ hết cảm xúc của mình.

Giai đoạn 1940-1945

Đây là thời kỳ thơ mới xuất hiện với nhiều khuynh hướng khác nhau, thực chất là bảo lưu những đặc điểm của thơ mới giai đoạn đầu, nhưng đã bắt đầu suy tàn. Các nhà thơ thời kỳ này đã xuất hiện một tác phẩm đề cao thú vui ăn chơi trước thời đại hỗn mang và lãng mạn một cách hiện thực cao. Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức không giữ được tư tưởng độc lập đã theo đuổi giai cấp tư sản một cách tự phát. Với thân phận của những con người lưu lạc, bị xã hội thực dân áp bức, họ như những người đứng ở ngã ba đường, sẵn sàng chấp nhận những luồng gió khác nhau.

Những nét chính của phong trào thơ mới

Những nét chính của phong trào thơ mới

Xu hướng chung của thời kỳ thơ mới những năm 1932-1945 là khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ của cái “tôi” của tác giả, thẩm mỹ hóa cuộc sống lộn xộn, rách rưới của một xã hội nửa thuộc địa, phong kiến ​​và là một sự hài hước. của nỗi buồn, sự u uất, lạc lõng giữa cuộc đời. Xu hướng nghệ thuật lãng mạn rất đa dạng, có khi lãng mạn, mộng mơ, bóng đêm, thần bí, anh hùng, triết lí, có khi anh hùng, dân tộc hoặc xã hội… Nhưng đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa lãng mạn là mộng mơ. Nhà thơ luôn muốn lên thiên đàng, hoặc trốn tránh thực tại. Trí thức tiểu tư sản có khuynh hướng cải tạo, không có dũng khí chống giặc ngoại xâm nên chuyển sang chủ nghĩa lãng mạn.

Đặc điểm lớn thứ hai của phong trào thơ mới là cái tôi trữ tình đặc biệt của nó. Đây là giai đoạn cái tôi cá nhân lên ngôi, các nhà thơ trẻ muốn bộc lộ hết cảm xúc của mình. Trong văn học thời kỳ này, cả trong thơ và văn xuôi, cá nhân được khẳng định, thể hiện những niềm vui, ước mơ và khát vọng. Cảm hứng sáng tạo liên quan đến nhận thức cá nhân; thơ mới là thơ của “tôi”, một “cái tôi” không được thừa nhận trong thơ cổ điển. “Tôi” lúc đó không còn tác dụng “tải đạo” nữa, mà đã vượt ra khỏi những công thức thông thường, khuôn khổ cố định. Xuân Diệu từng nói:

“Ta là một, ta phân, ta là thứ nhất”

Phong cách nghệ thuật nổi lên không chút cản trở, hoàn toàn khác với cái tôi ngoan đạo của thơ xưa vốn chỉ bàn đến những vấn đề dân tộc và loại trừ cá nhân, trong khi thơ là “tiếng nói đầu tiên” của tình yêu.

Thơ mới mang trong mình dư âm của thời gian, nỗi buồn của một thế hệ yêu nước nhưng bất lực trước thời gian. Cái tôi trong thơ đã trốn chạy theo nhiều cách khác nhau, cảm giác ở đâu cũng buồn cô đơn. Nỗi buồn cô đơn bao trùm lên cảm xúc của tiếng Thu với hình ảnh: “Con nai vàng ngơ ngác. Bí đao gọt vỏ, nạo vỏ và ép lấy nước. (Lưu Trọng Lư). Buồn bã, cô đơn là tâm trạng của cá nhân nhà thơ, nhưng lại là nét chung của các nhà thơ thuộc trường phái này. Đây không phải là hiện tượng lạ mà vì những lý do khách quan chung. Họ không biết phải làm gì, đi theo hướng nào giữa xã hội phân tán ấy. Họ cũng không chấp nhận một cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt như bao người xung quanh. Vì vậy, họ cảm thấy lạc lõng và bất lực trong xã hội.

Thơ mới theo đuổi chủ nghĩa lãng mạn, lấy cảm hứng tự nhiên và trữ tình làm chủ đề, nhưng không vì thế mà xa rời thời đại. Bài thơ mới thể hiện lòng yêu nước của các thi sĩ thời bấy giờ:

Trái tim của đất sưng lên vì nước,

Chạng vạng không khói lửa khao khát.

Những bài thơ mang đậm tinh thần dân tộc, thể hiện tấm lòng của những người con Việt Nam trước cảnh nước mất nhà tan. Có thể nói, tinh thần dân tộc là động lực tinh thần giúp các nhà thơ trẻ giữ vững lòng yêu nước. Quê hương thân yêu đã trở thành nguồn cảm hứng trong nhiều bài thơ. Thơ mới luôn nuôi dưỡng trong tôi khát vọng độc lập tự do và tinh thần yêu nước sâu sắc.

Có thể nói, trào lưu thơ tuy chỉ xảy ra trong thời gian rất ngắn nhưng ánh sáng của nó vô cùng rực rỡ. Sự xuất hiện của trào lưu làm tiền đề cho thời kỳ văn học cách mạng sau này, thời kỳ mà cái tôi của các tác giả bộc lộ hết, bùng nổ những phương pháp nghệ thuật mới nhưng vẫn giữ được cái hay của tiếng Việt.

đồng cỏ

Anybooks.vn – Kênh thông tin giới thiệu sách, review sách, chia sẻ những cuốn sách hay đến bạn đọc.

READ  35+ Chùm Thơ Tháng 4 Mùa Hoa Loa Kèn Nhuộm Nỗi Nhớ Ai | Educationuk-vietnam.org

Bài viết cùng chủ đề: