4 lượt xem

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử | Educationuk-vietnam.org

Hàn Mặc Tử là một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ mới ở Việt Nam 1932-1935 ở thế kỷ trước. Anh khẳng định mình trong dòng chảy văn học dân tộc với thể loại “thơ điên”. Như Bạch Cư Dị đã từng nói: “Chữ là gốc, nghĩa là cành, âm là hoa, tức là quả. Thơ là nghệ thuật tổ chức ngôn từ để chúng tạo nên những lớp nghĩa, lớp nghĩa chồng lên nhau. ” Hầu hết những bài thơ đọng lại trong lòng người hâm mộ thơ ca Việt Nam là những bài thơ viết về xứ Huế của tác giả Hàn Mặc Tử. Trong số đó, không thể không kể đến tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ là bức tranh thôn Vĩ vô cùng đẹp đẽ, đẹp đẽ với dòng hài hước của nhà thơ.

“Đây thôn Vĩ Dạ” được lấy cảm hứng từ bức ảnh của Hoàng Cúc – cô gái thôn Vĩ mà tác giả thầm thương trộm nhớ. Hàn Mặc Tử viết tác phẩm này khi đang điều trị căn bệnh quái ác ở trại phong Quy Hòa, cụ thể là những ngày cuối đời. Ban đầu bài thơ có tên là “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

“Sao anh không về Làng Vi?”

Câu hỏi tu từ không phải để hỏi mà là để bộc lộ cảm xúc. Nó như một lời quở trách, một lời nhắc nhở; cũng như một lời mời. Nhưng, đây là câu nói của ai? Nhiều người cho rằng đây là những lời của Hoàng Cúc; hay nói cách khác là lời của một cô gái thôn Vĩ. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu đây là những lời của Hàn Mặc Tử – tác giả được nhân bản bằng cách tự hỏi mình. Từ mà nhà thơ sử dụng là “không quan hệ” không “chưa”. Vì biết chắc rằng mình sẽ không thể trở về, căn bệnh quái ác đang hành hạ và giằng xé nhà thơ. Lần đầu tiên đọc bài thơ, tôi nghĩ đó chỉ là một lời quở trách trong sáng và nhẹ nhàng; Nhưng càng đào sâu, chúng ta càng thấy nỗi sầu muộn vô cùng. Còn gì đau đớn và xót xa hơn khi không được trở về nơi có người đàn ông mình đã yêu và luôn yêu, nơi gắn bó cả cuộc đời của tác giả.

READ  1001 bài thơ tiếc thương Cha Mẹ đã mất, nhớ hơi ấm ngày xưa! | Educationuk-vietnam.org

Dù thể xác không về được nhưng tâm hồn Hàn Mặc Tử luôn nhớ về mảnh đất thôn Vĩ:

“Hàng mới nắng chang chang ngước nhìn”

Động từ “trông” gợi lên cái nhìn đau đáu về quê hương xa xôi của tác giả. Cảnh đẹp ở xứ Huế đã ăn sâu vào tâm trí nhà thơ. Hàn Mặc Tử dùng hình ảnh “cây cau” – cây cao nhất trong vườn để đo mức độ của mặt trời từ thiên nhiên. Cụm từ “nắng mới” là sự bổ sung, bổ sung ý nghĩa “đấu trường hàng nắng”. Sáng sớm, những tia nắng dịu nhẹ chạm vào từng chiếc lá, rơi xuống như đẹp long lanh. Thời gian trong bức tranh không tĩnh mà chuyển động từ từ, chậm rãi. Ý nghĩa sâu xa hơn, đặt vào hoàn cảnh của tác giả lúc bấy giờ – thời kỳ đầu của bệnh – hình ảnh “mặt trời mới mọc” rất khác với “Bên sông mãi nắng chói” – cái nắng gay gắt và đau đớn. của giai đoạn sau bệnh.

Không chỉ miêu tả mỗi “sân trường hàng nắng”, Hàn Mặc Tử còn miêu tả khái quát khu vườn đặc trưng của Huế:

“Vườn ai mướt xanh như ngọc”

Qua tính từ “mượt mà” và phép so sánh “xanh như ngọc”, người đọc có thể hình dung ra một khu vườn xinh đẹp, mượt mà, óng ả, rậm rạp và tràn đầy sức sống. Khu vườn ấy từ vẻ mộc mạc, dân dã đã trở nên quý giá, lấp lánh như một viên ngọc quý. Từ “too” đồng nghĩa với “too much”, nhưng nó phải là từ “too” vì nó thể hiện sự ngạc nhiên. Một cảnh đẹp tuyệt đẹp của thiên nhiên! Không quan trọng chủ nhân của khu vườn này là ai, nhưng chắc chắn “người ấy” phải là một người rất đẹp.

Hàn Mặc Tử lúc này đang dùng hết tâm trí để nhớ về Huế, thôn Vĩ Dạ – không chỉ thiên nhiên mà còn cả con người:

“Nắp lá tre ngang đầy”

Theo quan niệm xưa, “mặt chữ điền” là khuôn mặt của người đàn ông khỏe mạnh, giản dị; Nhưng ở Huế, người ta có câu ca dao:

“Mặt tôi vuông như chữ điền.

Da tôi trắng và áo tôi đen

Trái tim tôi có trời và đất

“Có một lời nói nhân từ, có một lời nói trung thành.”

Như vậy, dù là trai hay gái thì hình ảnh “mặt chữ điền” đều tượng trưng cho những người tốt, trung thành, nhân nghĩa. Vẻ đẹp ấy không được bộc lộ mà được thể hiện một cách kín đáo qua hình ảnh “lũy tre trải lá”.

Tóm lại, khổ thơ đầu là hình ảnh thôn Vĩ được tác giả miêu tả bằng tất cả tâm hồn, sự gắn bó và nghĩa tình sâu nặng. Cảnh thôn Vĩ đẹp nên thơ, người dân thôn Vĩ thật thà, lịch thiệp!

READ  Tuyển Tập 10 Áng Thơ Hay Nhất Của Ông Quan Nguyễn Công Trứ | Educationuk-vietnam.org

Sang đến khổ thơ thứ hai, tác giả đưa ta đến với cảnh sông nước ở xứ Huế. Nếu ai đã từng đến thăm Huế, chắc hẳn sẽ không thể quên được vẻ đẹp của sông Hương:

“Hương giang sông lặng

“Trái tim anh vẫn ngày đêm yêu”.

Thế nhưng, qua ngòi bút của Hàn Mặc Tử, cảnh đẹp ấy bỗng buồn đến nao lòng:

“Gió theo gió, mây theo mây”

Nước buồn hoa ngô rung rinh ”

Gió khép lại bằng hai từ “mùi”, mây khép lại bằng hai từ “mây”. Hình ảnh gió và mây vốn luôn song hành, liền kề nay lại chia cắt. Nước có suối nhưng chẳng buồn chảy, hoa mặc mình bay theo làn gió nhẹ. Mọi thứ đều mang một màu buồn. Hai dây được ngắt 4/3 để ngắt tính chất liên kết, tách đoạn. Không gian trống rỗng, thời gian như đóng băng, cảnh vật vô cùng bề thế, hững hờ. Những hình ảnh ấy giống như tình yêu đơn phương của Hàn Mặc Tử Tử Hoàng Cúc – một tình yêu không thể cứu vãn. Từ trên xuống dưới, từ trời xuống nước; Nỗi buồn, nỗi đau của nhà thơ đã bao trùm lên mọi ngóc ngách của sân khấu.

Ở hai dòng cuối của khổ thơ thứ hai, lời nói của Hàn Mặc Tử như một cánh cửa mở ra một không gian vừa thực vừa ảo:

“Thuyền ai neo ở sông Trăng.

Đêm nay có tiếp trăng không? ”

Một lần nữa đại từ bổ ngữ “ai” và câu hỏi tu từ lại xuất hiện. Tác giả gọi sông Hương là “sông nguyệt”. Dòng sông ấy như một tấm gương khổng lồ, phản chiếu ánh trăng lên trời, khiến không gian ngập tràn ánh trăng, như được dát vàng! Thuyền ôm trăng trôi trên sông trăng. Thật là một không gian thơ mộng và tuyệt vời! Như chúng ta đã biết, thơ Hàn Mặc Tử luôn gắn liền với hai hình ảnh “trăng” và “máu”. Đặc biệt, “vầng trăng” là tình yêu quê hương sâu nặng, giản dị, mộc mạc. Tác giả nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ Huế và nhớ cô thôn nữ họ Vi. Hàn Mặc Tử đã tự đặt cho mình một câu hỏi: có còn thời gian để quay lại không? Cầm cự với căn bệnh phong ác – căn bệnh nan y – anh ý thức rằng thời gian của mình không còn nhiều. Bài thơ và câu hỏi tu từ là nỗi băn khoăn, trăn trở, vất vả triền miên của nhà thơ.

Theo những câu thơ đầy cảm xúc của Hàn Mặc Tử, khổ thơ cuối của bài “Đây thôn Vĩ Dạ” dường như là hiện thân của chữ “máu” trong thơ ông. Đây là những nỗi đau, sự vất vả, sự vất vả và những bóng ma:

READ  Thơ Giàu Nghèo - Chùm Thơ Về Sự Giàu & Nghèo Khó Trong Cuộc Sống | Educationuk-vietnam.org

“Khoảnh khắc khoảng cách, khách xa

“Áo sơ mi của tôi trắng quá không nhìn ra được.”

Động từ “mơ” cho ta một cảm giác không thực, hơi mơ hồ, mơ màng. Điệp ngữ “lữ khách phương xa” được lặp lại hai lần nhấn mạnh sự xa cách, xa cách, khó hiểu. Khoảng cách đó không chỉ là khoảng cách không gian, khoảng cách địa lý; mà còn là khoảng cách về thời gian và quan trọng nhất là khoảng cách trong trái tim mỗi người. Trong cõi hư ảo, ngay cả người mình yêu thương thầm thương trộm nhớ tác giả đã không còn ai biết đến, thật buồn biết bao!

Một lần nữa, câu hỏi được tác giả đặt ra, nhưng không có câu trả lời:

“Ở đây sương mù là sương mù

“Có ai biết can đảm không?”

“Đây là đâu? Cụm từ xác định một địa điểm nhất định. Đó là thế giới của chính tác giả – một nơi hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. “Here” cũng có thể hiểu là một từ chỉ thời gian. Ở thời hiện tại, tất cả những bóng hình, bóng dáng của con người của ngày hôm qua cứ mờ mờ ảo ảo trong tâm trí nhà thơ. Đại từ thông tục “ai” được dùng hai lần, nhưng câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa: một là, nếu Hoàng Cúc biết về tình cảm, nhớ lại tấm lòng này của Hàn Mặc Tử; Thứ hai, anh ấy có hiểu người khác, cảm xúc của một người như bạn không? Dù thế nào đi nữa, chúng ta đều có thể cảm nhận được nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ, cảm nhận được nỗi nhớ mong của một người sống biệt lập với thế giới bên ngoài, người mang trong mình căn bệnh quái ác.…

Tóm lại, bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ hay về cảnh vật và con người thôn Vĩ Dạ cũng như về nỗi băn khoăn, đau đáu, khắc khoải của Hàn Mặc Tử. Tìm hiểu thôn Vĩ cũng như bao làng quê khác trên cả nước ta mới thấy được tình yêu quê hương thầm kín mà mãnh liệt của nhà thơ. Cho đến nay chưa ai dám khẳng định có thể bóc tách hết các tầng ngữ nghĩa của tác phẩm này. Cho nên, “Đây thôn Vĩ Dạ” sẽ mãi là hành trang tinh thần, là sợi dây kết nối lâu dài cho những ai yêu văn học, thơ ca Việt Nam.

Viết bởi Bùi Ngọc

Bài viết cùng chủ đề: