5 lượt xem

Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm | Educationuk-vietnam.org

Có ý kiến ​​cho rằng:

“Thơ là tiếng hát của trái tim, là nơi an nghỉ của tâm hồn”

Quả thực, mỗi bài thơ như một bản nhạc, một bản tình ca sâu lắng hay một bản hùng ca hào hùng. Voltare cũng đã từng nói “Thơ là nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao thượng và đa cảm”, nhưng những tâm hồn cao cả và đa cảm ấy có lẽ phải kể đến một Xuân Diệu với “Vội vàng” và một Huy Cận với “Tràng Giang”. Hai bài thơ, hai tác giả, hai màu sắc khác nhau, nhưng cả hai đều khiến người đọc chìm đắm trong sự hài hước của nhà thơ.

Vậy trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về khái niệm thơ nhé! Với Xuân Diệu: “Thơ là nữ hoàng của nghệ thuật”. Tố Hữu: “Thơ là tiếng nói của tri âm”. Với Bibolay: “Thơ là người thư ký trung thành của trái tim”. Thơ là một thể loại sáng tác văn học có những nét ngắn gọn, súc tích. cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu cách lựa chọn từ ngữ trong đó ngắn gọn và gây xúc động nhanh cho người đọc.

Tại sao lại nói “thơ là nhạc của tâm hồn”? Đó là do vần điệu của cô ấy hay còn một lý do nào khác sâu xa hơn? Có phải vì người ta chỉ chọn những thứ thiết yếu nhất để quyết định một bài hát, và thơ cũng vậy? Có phải vì qua từng câu hát người ta có thể thấy được những cung bậc cảm xúc của người nghệ sĩ dù vui hay buồn, thầm kín hay da diết, chân thực qua giai điệu, qua câu thơ? ? Phải chăng qua mỗi bản nhạc ta sẽ cảm nhận được tình yêu, cảm xúc của người nghệ sĩ mà qua thơ ta mới thấu hiểu sâu sắc những rung động đầu đời của mỗi tác giả? Liệu rằng âm nhạc có thể chữa lành và xoa dịu những vết thương đang nằm sâu trong mỗi chúng ta, và thơ ca cũng có thể làm được như vậy? Hay vì ngay trong hai chữ “thơ” đã có một phần “khúc” mang nghĩa âm nhạc giai điệu?

Thơ xuất phát từ tâm hồn người nghệ sĩ, những rung động và tình cảm tự nhiên nhất. Đó là cả một quá trình thai nghén và giáo dục cảm xúc của nhà thơ, để khi gặp cảnh, gặp vật, gặp người, làm cho cảm xúc ấy như thăng hoa hơn, tác giả biến ý thơ thành lời. Vì vậy, mỗi bài thơ đều là một quá trình lao động trí óc, tập trung vào cảm xúc, trau chuốt, cắt tỉa chính xác, từ cách dùng từ đến cách đặt câu, từ vần điệu đến mạch cảm xúc … đều được cẩn thận đến từng nét vẽ, từng từ. Mỗi tác phẩm là một ý tưởng quý giá của tác giả!

“Tâm hồn đa cảm cao thượng” ở đây có thể hiểu là những nhà thơ, nhà thơ với những rung động, cảm xúc thăng hoa với vạn vật, với cuộc đời. Là Xuân Diệu với niềm say mê và tình yêu, hay Huy Cận với nỗi buồn và niềm tiếc thương sâu sắc! Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân viết: “Chưa bao giờ chúng ta thấy một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, thơ mộng như Lưu Trọng Lư, oai phong lẫm liệt như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhuế. Pháp, si mê như Huy Cận, Nguyễn Bính quê mùa, kỳ quái như Chế Lan Viên và say mê, đắm đuối, trăn trở như Xuân Diệu ”.

READ  Chùm thơ về hoa hồng hay, lắng đọng tâm hồn | Educationuk-vietnam.org

Có phải ngẫu nhiên mà hai tác giả chỉ dùng một từ để miêu tả các thi nhân mà lại dùng đến 3 từ để miêu tả phong cách thơ Xuân Diệu? Có phải ngẫu nhiên Xuân Diệu được gọi là “người trẻ nhất trong các nhà thơ trẻ”? Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh viết: “Nếu Tản Đà là người đi trước mở đầu cho bài Tân ký sắp ra đời, thì Xuân Diệu chính là nghệ sĩ đã trình diễn tác phẩm ấy, đưa nó đến với độc giả, làm nên một cuộc chuyển mình, một cuộc cách mạng trong thơ ca. ” Sở dĩ ông có những danh hiệu và phát biểu như vậy vì Xuân Diệu trẻ trong suy nghĩ, trẻ trong suy nghĩ và trẻ trong tình cảm. Vì là một trí thức có học ở phương Tây, nên tâm hồn ông được khơi dậy nhiều luồng gió mạnh nhờ những tư tưởng nhân văn sâu sắc – đây là tư tưởng tự do, dân chủ của văn học Pháp lúc bấy giờ. Nhà thơ có chút yêu đời, yêu thế giới với tâm hồn tha thiết khát khao hưởng thụ và cống hiến. Điều này được thể hiện rõ nhất trong tác phẩm “Vội vàng” mà ông viết năm 1938:

“Tôi muốn mặt trời không chiếu sáng

Để màu không bị phai

Tôi muốn kết nối gió

Để hương không bay ”

Tác giả mang khát vọng ngông cuồng và táo bạo của mình vào từng câu thơ. Anh muốn “tắt nắng”, anh muốn “buộc gió”, điều khiển tất cả thiên nhiên và tạo vật, gìn giữ, lưu giữ một chút sắc hương, một chút hương xuân đất trời.

Bức tranh thiên nhiên vạn vật trong con mắt yêu thương, đôi mắt “non xanh, dịu êm” của nhà thơ cũng trở nên ngọt ngào như một bản tình ca mùa xuân:

“Đây là một con ong và một con bướm

Đây là những bông hoa của cánh đồng xanh

Này, đây là nơi lá của cành bay

Từ tổ ấm anh đây là khúc tình ca

Và đây là ánh sáng lấp lánh

Thần vui vẻ gõ cửa mỗi sớm mai

Tháng giêng ngon lành chẳng kém gì đôi môi hẹp.

Tôi hạnh phúc. Nhưng một nửa vội vàng

Tôi không mong nắng hè trở lại vào mùa xuân ”

Mọi thứ trong thơ Xuân Diệu đều xuất hiện thành từng cặp, tất cả đều hân hoan trong niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lẽ vì được nhìn từ góc độ của một người đang yêu, nên từ “bướm” đến “hoa” đến “tổ yến” đều trở nên thật đẹp, tất cả đều hân hoan trong “bản tình ca”. , trong “tuần trăng mật”, trong những giây phút hạnh phúc lạ thường. Tác giả còn dám đưa vào thơ cả một sự sáng tạo lớn, phá bỏ những khuôn khổ, quy tắc cũ trong thơ cũ. Thông thường, người ta khi miêu tả vẻ đẹp của con người sẽ lấy thiên nhiên làm thước đo chuẩn mực, nhưng Xuân Diệu thì khác, ông mạnh dạn lấy con người làm hình mẫu để đo vẻ đẹp của thiên nhiên. Anh lấy “đôi mi” của người thiếu nữ dậy muộn, anh lấy “đôi môi khép lại” đầy tươi tắn và quyến rũ để so sánh, để tạo hình cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Tuy nhiên, điểm độc đáo nhất trong thơ anh nằm ở đà cảm xúc khiến người ta say mê theo anh qua từng câu chữ. Anh không chỉ muốn được hòa mình vào thiên nhiên, mà còn chủ động nâng niu mùa xuân ấy, tích cực gìn giữ vẻ đẹp của đất trời, “chẳng mong nắng hạ mùa xuân về” – không để mùa xuân trôi qua trước nỗi nhớ. Nếu bốn câu đầu của bài thơ tác giả sử dụng cảm xúc năm cánh, cô đọng và dồn nén thì bảy câu tiếp theo là sự giải tỏa, thăng hoa của cảm xúc khi tác giả kéo dài các câu thơ thành một bài thơ tám chữ.

READ  Chùm Thơ Luật Nhân Quả, Nhân Sinh Hay & Ý Nghĩa Gieo Nhân Gặp Qủa | Educationuk-vietnam.org

Niềm khao khát, cảm xúc mãnh liệt và một chút kiêu sa ấy cứ lớn dần lên theo từng câu thơ, ta cảm nhận được theo dòng cảm xúc của nhà thơ – cảm xúc khẩn thiết về khát vọng hòa hợp với thiên nhiên, cảm xúc bức bách. Tác giả “Mong muốn được Ôm”. “Ta muốn bóp” “Ta muốn say” “Ta muốn thu” “Ta muốn cắn” của tác giả, hi vọng có thể lưu lại thanh xuân trong lòng. Động từ “tôi yêu” trở đi trở lại từ khổ thơ đầu đến cuối cho thấy lòng tham của tác giả trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên:

“Tôi muốn một cái ôm

Tất cả cuộc sống mới bắt đầu nảy nở

Tôi muốn thu hút mây và gió

Tôi muốn dìm chết những con bướm bằng tình yêu

Tôi muốn thu thập rất nhiều thứ trong một nụ hôn

Và nước và cây và cỏ

Hãy để tôi choáng váng mùi hương, hãy để nó tràn ngập ánh sáng

Tràn ngập vẻ đẹp của thời kỳ tươi mới

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn xé ngươi “

Xuân Diệu của chúng ta là thế – lãng mạn, nồng nàn, đắm say, nồng nàn, mến khách, đằm thắm, tươi vui và ngập tràn hạnh phúc. Nếu so sánh thời điểm sáng tác bài thơ Vội vàng với những tác phẩm cùng thời như “Hai đứa trẻ”, như “Đây thôn Vĩ Dạ” của Thạch Lam và Hàn Mặc Tử, chúng ta sẽ thấy rõ sự khác biệt, độc đáo. và nét mới lạ của hồn thơ Xuân Diệu. Khi Thạch Lam chìm trong bóng tối nơi phố huyện, khi Hàn Mặc Tử bùi ngùi với nỗi nhớ quê hương mà phải chia xa, biệt ly thì Xuân Diệu của chúng ta lại yêu đời, tích cực, lãng mạn và yêu đời. Thật mơ mộng!

Nhưng Huy Cận – người bạn thân thiết hơn nửa thế kỷ của Xuân Diệu – lại chọn cách nhìn cuộc đời theo cách khác. Anh chọn kế thừa, tiếp nối âm hưởng thơ bây giờ – một âm hưởng trầm buồn. Nhưng nỗi buồn trong thơ Huy Cận không phải là nỗi buồn da diết, không phải là nỗi buồn dày đặc mà là nỗi buồn đẹp, buồn lãng mạn, nỗi buồn da diết trước cảnh nước mất nhà tan lúc bấy giờ.

Khác với Xuân Diệu, thơ Huy Cận là một giọng thơ, một hồn thơ mang nỗi sầu ngàn năm. Cũng bởi vì anh ấy là một nhà thơ lãng mạn, cuộc đời của anh ấy đau khổ nhưng anh ấy không thể cứu vãn được. Vì vậy, trong mỗi câu thơ của ông, chúng ta phân biệt được khát vọng mãnh liệt mang lại hạnh phúc cho cuộc sống và con người, khát vọng hưởng thụ, nhẹ nhàng nhưng không thể hiện thực hóa được, nỗi đau thấu tâm can, bất lực của nhà thơ. Chính vì vậy mà thơ anh thật buồn, thật hư ảo. Đó là nỗi buồn của đất nước, nhưng là nỗi buồn của sông núi. Khác với Xuân Diệu, Huy Cận bước đi chậm rãi nhưng thành công trong Thơ văn.

Nhận xét về tập thơ Lửa thiêng của nhà thơ Huy Cận, Hoài Thanh từng viết: “Nỗi buồn đau thương là âm hưởng chủ đạo khiến ‘Lửa thiêng’ như một khúc ca dài than khóc, một tập thơ đầy nỗi buồn của con người. buồn thay, với nỗi niềm ngàn năm ấy, Huy Cận đã đi nhặt nhạnh một chút buồn rơi vào sọt rác trên đời, để rồi tạo nên những hồn thơ hư ảo, nhưng ai có thể ngờ, chỉ với chút bột bụi tầm thường ấy, nhà thơ đã đặt biết bao nhiêu là đá quý. ”Quả thật, nỗi buồn trong thơ Huy Cận là một viên ngọc quý, một nỗi buồn tinh tế, và điều này được thể hiện rõ nét nhất trong bài thơ“ Tràng Giang ”:

READ  Thơ Về Trăng Hay - Chùm Thơ Tình Ánh Trăng Cô Đơn Trong Đêm Buồn | Educationuk-vietnam.org

“Những con sóng tràn ngập nỗi buồn đau thương

Con thuyền xuống khỏi mái nhà song song

Thuyền về quê lại buồn

Cành củi khô xếp mấy hàng ”

Dùng từ “buồn”, từ “buồn”, tác giả đã dùng cái buồn của cảnh vật thiên nhiên để nói lên nỗi buồn trong tâm trạng của mình. Trong lòng nhà thơ dường như sóng cứ quay cuồng, hay lòng người khóc không ngớt. Hình ảnh “thuyền” và “nước” tưởng chừng là hai hình ảnh không thể tách rời nhưng dưới góc nhìn của nhà thơ chúng lại trở thành hai đường thẳng song song không thể chạm vào nhau. Mọi thứ trong thơ Huy Cận dường như tách rời nhau, không còn đôi lứa như trong thơ Xuân Diệu. “Trường giang” mang một nỗi buồn trùng trùng với thời gian, lan tỏa khắp không gian, như trăm suối chảy thành sông, ngàn tầng, nỗi buồn từ muôn nguồn dồn lại thành một nỗi buồn mênh mang. Đây là nỗi xót xa của cái tôi thơ khi đối diện với không gian của đất trời, khi cảm nhận những kiếp người nhỏ bé, khốn khổ trôi giữa mênh mang sông nước.

Nếu nói Xuân Diệu là người có cảm giác về thời gian, thì Huy Cận là người có cảm giác về không gian, ông viết:

“Mặt trời lặn và bầu trời thăm thẳm

Bài ca dài, trời rộng, bến vắng ”

Không gian thiên nhiên về bản chất là rộng lớn, qua cách miêu tả của nhà thơ dường như mở rộng ra nhiều chiều. Hai cụm từ “sâu thăm thẳm” và “khủng khiếp” được nhà thơ kết hợp để tạo nên một từ mới “sâu thăm thẳm” – cả hai đều chỉ độ cao của trời, độ sâu của cảnh vật và sự vô tận của không gian. Trước không gian bao la ấy, con người bé nhỏ giờ đây lại càng nhỏ bé hơn, trơ trọi giữa đất trời.

Nỗi buồn cô đơn càng lớn càng nhân lên bội phần hàng hóa từ sâu thẳm trái tim tác giả:

“Lòng non sông thủy chung.

“Không có khói trong hoàng hôn, và không có hàng hóa.”

Sở dĩ người ta nói Huy Cận là một nhà thơ đa sầu đa cảm là vì nếu Thôi Hiệu trong bài thơ xưa của ông nhìn bóng chiều tà, nhìn khói sóng, xúc động lòng nhớ quê hương, nơi đây, dẫu không bên ngoài. ảnh hưởng. những hoàn cảnh “không khói hoàng hôn”, Huy Cận của chúng ta vẫn nhớ nhà da diết. Có lẽ là bởi vì, nỗi nhớ ấy vẫn luôn thường trực, vẫn đau đáu trong lòng tác giả bấy lâu nay.

Tóm lại, Huy Cận và Xuân Diệu – hai nhà thơ, hai phong cách viết hoàn toàn trái ngược nhau nhưng đều mang trong mình những nỗi niềm sâu kín muốn gửi gắm đến người đọc, đều là những người rất tinh tế. , rất nhạy cảm với thiên nhiên, với thời gian. Họ đều là những người đã đóng góp một phần không nhỏ những cái tôi độc đáo của mình cho nền văn học Việt Nam. Tất cả đều là những nốt nhạc với những âm vang khác nhau trong Thi Đàn, mang đến một làn sóng mới cho thơ ca Việt Nam thời kỳ tiền chiến.

Viết bởi Bùi Ngọc

Bài viết cùng chủ đề: