5 lượt xem

Trạng nguyên Đào Sư Tích | Educationuk-vietnam.org

Đào Sư Tích sinh năm Canh dần (1350), mất năm Bính Tý (1396), quê ở làng Cổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thành phố Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, nước Nam). Tỉnh Định). Ông là người đỗ Trạng nguyên thứ hai trong số 5 Trạng nguyên của đất văn hiến Nam Định. Đã từ lâu, những tư liệu lịch sử viết về ông rất ít, ngắn gọn nhưng công danh sự nghiệp của ông đã được nhân dân truyền tai nhau rất nhiều.

Đào Sư Tích xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Từ thời Trần Nhân Tông, họ Đào đã có Đào Dương Bạt làm Thái học sinh. Ông được các Vua, Thần nhà Trần giữ chức Thượng thư Bộ binh, Đông các Đại học sĩ. Năm 1285, ông vâng lệnh triều đình trở về đất Đồng Tràng trên đường Trường Yên (nay là thôn Đồng Tràng, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) chiêu dân lập làng làm nơi trấn thủ. đối với căn cứ Trường Yên trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Thân phụ của Đào Sư Tích là Đào Toàn Bản (sử sách chép là Đào Toàn Mẫn, Đào Tuyên Phủ,…) quê ở làng Song Khê, huyện Yên Dũng, thuở nhỏ đi học ở Cổ Lễ, lấy chồng và đã sống ở đó. Ông đỗ Hương cống khoa Giáp Tý đời Trần, Hoàng giáp khoa Nhâm Dần (1362) đời Trần Dụ Tông, làm quan đến chức Thượng thư, Hình sự. Ông là một người thầy nổi tiếng về phương pháp dạy và học trò của ông có rất nhiều người thành công. Thành hoàng quốc tổ Chu Văn An đã ca tụng ông là “bậc thầy vô song”.

Đào Sư Tích là con trai thứ của Đào Toàn Bân. Vốn bản tính thông minh, ham học, được người cha nổi tiếng dạy dỗ, Đào Sư Tích nhanh chóng phát hiện ra tài năng thơ phú, học thức hơn hẳn các bạn, năm 7 tuổi ông đã nổi tiếng là Thần đồng. Ngày còn đi học, có lần, Đào Sư Tích phải vượt sông Hồng vào Thái Bình cắt thuốc chữa bệnh cho cha. Do phà đông nên Đào Sư Tích phải đợi chuyến sau. Trong lúc chờ phà, cảm thấy choáng ngợp trước trời và nước bao la, Đào Sư Tích đã viết mấy câu thơ:

READ  “Không bao giờ là thất bại, tất cả chỉ là thử thách”- Tự truyện khởi nghiệp từ bàn tay trắng | Educationuk-vietnam.org

Bầu trời bao la
Nước lớn
Tôi phải đợi
Vì thuyền đầy ắp người.

Bài thơ tuy giản dị chỉ vài câu nhưng lại thể hiện rõ khung cảnh bến tàu, phù hợp với tâm lý người chờ phà nên quen thuộc với nhiều người và có sức lan tỏa rất nhanh. Thật trùng hợp, người lái đò tên Đồng. Cô Đông là người có học, còn biết vẽ và làm thơ. Khi biết tác giả bài thơ Chờ phà là Tích, chị Đông đã gửi ngay cho anh một bài thơ theo phong cách riêng của anh:

Đêm yên tĩnh
Ngôi nhà yên tĩnh
Tôi ngồi và đọc
Perralla.

Bài thơ của chị Đông tuy giản dị nhưng rất lạ, với hàm ý chữ cuối bài thơ cũng trùng với tên tác giả bài thơ Chờ phà. Kể từ đó, hai người trở thành bạn thân của nhau. Nhưng chẳng bao lâu, cô Đổng bị gia đình ép gả cho một người đánh cá ở Tiền Hải, còn Đào Sư Tích đỗ Trạng Nguyên, làm quan quấn quýt trong triều đình nên hai người không được gặp nhau. lần nữa. Mối tình thơ trên bến tàu năm ấy vẫn còn tiếp nối trong cả hai nhiều năm sau.

Một hôm, Đào Sư Tích nhận được một bức thư không có tên người gửi, chỉ vỏn vẹn hai câu:

Vị trí quyền cao ngày nay được thỏa mãn
Nhớ ngày xưa đợi đò?

Sau nhiều năm làm quan, lại để xảy ra những tiêu cực trong sân đình, Đào Sư Tích cảm thấy chạnh lòng. Bức thư khiến anh nhớ lại những kỉ niệm đẹp đẽ về tình yêu thuở học trò. Một đêm anh không ngủ, dậy lấy bút viết hai câu thơ:

Mười lăm năm quyền cao
Không như một khoảnh khắc trên con thuyền cũ.

Có lẽ sự kiện này không chỉ bộc lộ tài năng văn chương của Đào Sư Tích mà còn có tác động đến quyết định kiểm duyệt của ông sau này.

Truyền thống khoa bảng nổi tiếng của dòng họ Đào và đất thu Nam Chân đã ảnh hưởng sâu sắc đến Đào Sư Tích. Anh ấy đã tham gia kỳ thi với sự tự tin và quyết tâm để vượt qua nó với danh hiệu cao. Tương truyền khi ông đi thi Đình, vừa đi đến ngõ đã gặp ngay một thiếu nữ. Anh ta trông không vui và nói:

READ  Nàng tiên thứ chín - Kho Tàng Truyện Cổ Tích Chọn Lọc | Educationuk-vietnam.org

– Tôi đi thi gặp cô gái!

Người phụ nữ trẻ, thông minh, nói:

– Khi thi anh đỗ tiến sĩ, hai chị em có chuyện gì xảy ra?

Anh ta quở trách:

– Bác sĩ khám gì?

Mỉm cười cô gái:

– Không đỗ tiến sĩ thì đỗ trạng nguyên, được không?

– Không sao đâu!

Khoa đó ông đỗ Trạng nguyên.

Câu chuyện trên tuy chỉ là truyền thuyết nhưng cũng phần nào phản ánh quyết tâm vươn tới địa vị cao của Đào Sư Tích. Trong tập xe lửa Nam thiên có bình luận về sự kiện này như sau:

– “Gặp một cô gái” là một trò đùa. “Bác sĩ nhìn cái tháp gì?” đó là sự thật. Cố Lệ (chỉ vào Đào Sư Tích) đã nắm chặt hai chữ “Kỉ Nguyên” trong tay, không nên đợi người khác nói ra mới biết!

Bản chất là người thông minh, ham học hỏi, có ý chí quyết tâm cao, lại được dạy dỗ bởi một người thầy nổi tiếng, chắc chắn Đào Sư Tích sẽ nổi trội hơn hẳn.

Khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) dưới thời Trần Duệ Tông, Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên. Đào Sư Tích, Long thần Lê Hiến Giản và Thám hoa Trần Đình Thám là ba vị tri quốc được vua bày tiệc chiêu đãi, xuống đường trong ba ngày và được phong chức quan. Các tài liệu đăng trong Lục đều nói rằng Đào Sư Tích đỗ đầu trong kỳ thi Hương trong các kỳ thi Hội và thi Đình, nên sau này nhiều học giả cho rằng ông đã đỗ Tam nguyên. Thời Lý – Trần, kỳ thi Đình là giai đoạn cuối cùng của kỳ thi Hội. Chỉ đến năm 1442, kỳ thi Đình mới thực sự được tách ra thành một kỳ thi độc lập. Vì vậy, chỉ từ năm nay mới có các danh hiệu Song nguyên (đỗ đầu trong các kỳ thi Hội, thi Đình) và Tam nguyên. Cả nước chỉ có 7 người đạt danh hiệu Tam nguyên. Đào Sư Tích tuy không phải là Tam nguyên nhưng từ thi Hương đến thi Đình đều đoạt hạng nhất nên mọi người vẫn quen gọi là Tam nguyên. Điều đó chứng tỏ Đào Sư Tích là người có tri thức uyên bác, đạo đức trong sáng, được nam giới ngưỡng mộ, yêu mến.

READ  Sự tích hoa mai vàng | Educationuk-vietnam.org

Một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thi cử nước ta là trong kỳ thi Giáp dần (1374), cả ba học trò của Đào Toàn Bản đều đạt điểm cao: con ông là Đào Sư Tích đỗ trạng nguyên, hai học trò là Lê Hiến Giản ( tức Lê Hiến Phu) đỗ Bàn Long nhãn, Lê Hiến Tứ đậu tiến sĩ (Thái học sinh). Bốn thầy trò sau này làm quan cùng triều. Trong buổi lễ đăng cơ, biết Đào Toàn Bân có công dạy dỗ con mình và cả hai người đều đỗ đại khoa, vua Trần đã phong ông là “Phụ giáo thụ khoa” (Công cha dạy con đỗ đạt) và phong cho ông. bốn chữ “Father and Son of the University.” khoa ”(Cha và con đỗ cả hai) với điều ngược lại:

Đăng khoa chi, khai tử khoa, tuyển sinh kế cận khoa chi nghề;

(Cha đỗ đạt, con đỗ đạt, cha con nối tiếp nhau làm nên sự nghiệp học hành thành tài)

Trạng nguyên nhỏ tuổi Đào Sư Tích liền xin phép vua và vua cha, làm như sau:

Tổ tiên tích đức, tôn vinh, tổ tiên tích đức.

(Ông nội tích đức, cháu trai tích đức, cháu trai cùng tu đức)

Các đôi Đào Sư Tích ca ngợi gia đình vua có đức cao, văn chương lớn, các ông, bà, con, cháu của vua đều như vậy. Đôi câu đối ấy cũng ngầm tự hào về dòng họ Dao có truyền thống chí khí hiển hách. Tài tương trợ của Đào Sư Tích đã làm hài lòng vua Trần.

Sau khi đỗ Trạng nguyên, Đào Sư Tích được bổ nhiệm làm Thượng thư phụ trách văn hóa – giáo dục của triều đình. Tháng 5 năm Đinh Dậu (1381), ông được thăng làm Nhập nội kiêm Hữu ty lang trung. Một vị quan cao cấp thời Trần vào cơ quan hành pháp, chỉ đứng sau tể tướng, người nắm quyền cơ mật của đất nước. Cũng trong năm này, cha ông là Đào Toàn Bân cũng được thăng chức Chánh tòa Hình sự, chịu trách nhiệm thực thi pháp luật, “điều khiển cán cân” của xã hội.